14 tháng 11, 2012

Lửa yêu (Lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam)



Tác giả: 
 Trầm Thiên Thu
Lửa yêu

(Lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam)

Lửa rất mềm mà cũng rất mạnh. Một đốm lửa có thể dập tắt bằng một hơi thổi nhẹ hoặc làn gió nhẹ, nhưng ngọn lửa lớn thì rất khó dập tắt. Lửa càng chia sẻ càng tăng thêm nhiều. Và “lửa yêu” cũng vậy!

Máu Thánh của Đức Kitô đã đổ ra vì thương xót và cứu độ nhân loại. Nhờ đó mà có nhiều người không “tham sanh, úy tử”, dám liều mạng sống vì Chúa. Đó là những nhân chứng đức tin, là các vị tử đạo. Chính máu các Thánh Tử Đạo là hạt giống sinh các tín hữu. Việt Nam là quốc gia có hằng trăm ngàn nhân chứng đức tin đã xả thân vì đức tin Kitô giáo. Các ngài cũng là những người có cuộc sống bình thường như chúng ta, nhưng có cách sống khác thường, dù thời đó Việt Nam mới nhận biết đức tin Kitô giáo chưa được bao lâu.


Thánh Anrê Phú Yên (1625-1644) mới rửa tội được 4 năm, thế nhưng đức tin của ngài đã trưởng thành nên mới có thể thí mạng vì Đức Kitô khi mới 19 tuổi đời. Thánh Anê Lê Thị Thành (1781-1841), thường gọi bà Đê, là một bà mẹ Công giáo bình thường, nhưng lại có một đời sống đức tin khác thường, để rồi dám chết vì Đức Kitô. Biết tin vua Thiệu Trị ra lệnh xử trảm, Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm (1813-1847) vẫn thản nhiên nói: “Tôi có ăn trộm ăn cướp gì đâu mà sợ, mà buồn. Được chết vì đạo là điều tốt lắm”.

Và còn hằng trăm ngàn người Công giáo Việt Nam đã chết vì Đạo Chúa, điều mà Đức Kitô đã xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Và đó cũng là một trong Bát Phúc: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5:10). Chúng ta quen đọc kinh Tám Mối Phúc Thật: “Phúc thay ai chịu khốn nạn vì đạo ngay ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được Nước Đức Chúa Trời làm của mình vậy”.

Với người đời, những cái chết đó là dại dột, là ngu xuẩn; nhưng với Thiên Chúa lại là sự khôn ngoan. Chúa Giêsu đã giải thích: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục” (Mt 10:28). Thật vậy, tác giả sách Khôn Ngoan nói: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa và chẳng cực hình nào động tới được nữa” (Kn 3:1). Đối với những người yêu Chúa thì đau khổ chẳng nghĩa lý gì.

Như kiểu nói của người Việt là “gậy ông đập lưng ông”, tác giả sách Khôn Ngoan nói: “Bọn ngu si coi họ như đã chết rồi; khi họ ra đi, chúng cho là họ gặp phải điều vô phúc. Lúc họ xa rời chúng ta, chúng tưởng là họ bị tiêu diệt, nhưng thực ra, họ đang hưởng an bình. Người đời nghĩ rằng họ đã bị trừng phạt, nhưng họ vẫn chứa chan hy vọng được trường sinh bất tử” (Kn 3:2-4). Tất cả xem chừng là những nghịch lý, nhưng lại là nghịch-lý-thuận. Mọi khổ hình dã man nhất của loài người đối với các nhân chứng đức tin cũng chỉ là cách “chịu sửa dạy đôi chút”, và rồi “họ sẽ được hưởng ân huệ lớn lao” (Kn 3:5). Đó mới là mục đích của họ!

Quả thế, Thiên Chúa đã thử thách họ và thấy họ xứng đáng với Ngài: “Ngài đã tinh luyện họ như người ta luyện vàng trong lò lửa, và đón nhận họ như của lễ toàn thiêu. Khi đến giờ được Thiên Chúa viếng thăm, họ sẽ rực sáng như tia lửa bén nhanh khắp rừng sậy” (Kn 3:6-7). Rồi họ sẽ được quyền “xét xử muôn dân và thống trị muôn nước”, chính “Đức Chúa sẽ là vua của họ đến muôn đời” (Kn 3:8). Thiên Chúa giúp họ lật lại thế cờ, chuyển bại thành thắng, đúng như lời Chúa hứa: “Những ai trông cậy vào Ngài, sẽ am tường sự thật; những ai trung thành, sẽ được Ngài yêu thương và cho ở gần Ngài, vì Ngài ban ân phúc và xót thương những ai Ngài tuyển chọn” (Kn 3:9).

Tác giả Thánh vịnh vui mừng trong niềm tín thác: “Chúc tụng Chúa là núi đá cho tôi nương ẩn, là Đấng dạy tôi nên người thiện chiến, luyện thành tay võ nghệ cao cường” (Tv 144:1). Tại sao? Vì “Chúa là đồng minh, là đồn luỹ che chở, là thành trì bảo vệ, là Đấng giải thoát tôi. Chúa là khiên mộc cho tôi ẩn núp, Người bắt chư dân quy phục quyền tôi” (Tv 144:2). Chẳng có gì có thể làm cho người tôi trung phải khiếp sợ, họ vẫn thản nhiên tôn thờ Chúa và vững tin: “Lạy Chúa Trời, xin dâng Chúa một bài ca mới, thập huyền cầm, con gảy đôi cung. Chính Ngài cho các vua thắng trận, cứu mạng Đa-vít, kẻ trung thần, khỏi lưỡi gươm ác nghiệt” (Tv 144:9-10).

Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?. Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?” (Rm 8:31-32). Thánh nhân tiếp tục chất vấn một loạt: “Ai sẽ buộc tội những người Thiên Chúa đã chọn? Chẳng lẽ Thiên Chúa, Đấng làm cho nên công chính? Ai sẽ kết án họ? Chẳng lẽ Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta? Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?” (Rm 8:33-35). Chính những câu hỏi đó đã ngầm chuyển tải những câu trả lời.

Có lời chép: “Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh”. Nhưng trong mọi thử thách ấy, “chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8:37). Thánh Phaolô tin chắc: “Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8:39). Tất cả chỉ là “số không”, và chẳng gì cản bước hoặc ngăn cấm được người ta yêu mến Thiên Chúa. Lúc này “lửa yêu” đã bùng cháy, không gì có thể dập tắt!

Trong một lần rao giảng, Đức Giêsu nói với mọi người: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9:23). Điều kiện “theo Chúa” vừa dễ, vừa khó. Lửa yêu của ai mạnh thì là dễ, nhưng lửa yêu của ai yếu thì là khó. Chính người đời cũng ví von: “Tình yêu trong cách xa như ngọn lửa trong gió: Gió thổi tắt ngọn lửa nhỏ, nhưng thổi bùng ngọn lửa lớn”.

Chúa Giêsu nói thêm: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9:24). Đặc biệt là cách đặt vấn đề của Ngài: “Người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?” (Lc 9:25). Cách nói “nghi vấn xác định” là cách xác định mạnh mẽ hơn.

Rồi Ngài kết luận: “Ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình, của Chúa Cha và các thánh thiên thần” (Lc 9:26). Rất rõ ràng. Rất mạch lạc. Rất dễ hiểu. Nhưng Ngài vẫn tôn trọng tự do của mỗi người, chứ Ngài không hề ép buộc bất kỳ ai.

Lạy Thiên Chúa, xin thêm đức tin-cậy-mến và lòng can đảm cho chúng con, và giúp chúng con biết noi gương sáng các nhân chứng đức tin là tiền nhân của chúng con. Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin nguyện giúp cầu thay chúng con hôm nay và mãi mãi, nhất là trong Năm Đức Tin này. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
source by: ThanhLinh
TRẦM THIÊN THU

Tận Thế



Tác giả: 
 Trầm Thiên Thu

Tận thế

(Chúa nhật XXXIII TN, năm B)

Thời gian thấm thoát. Mới ngày nào bắt đầu một năm mà nay đã vào cuối năm, cả về năm đời và năm phụng vụ. Thời gian vào giai đoạn cuối. Thời điểm cuối gợi nhiều suy tư. Có nhiều cái cuối, đặc biệt nhất là cuối đời và cuối thời – tức là tận thế, Công giáo gọi là cánh chung.

Tận thế là 2 từ người ta không muốn nghe ai nhắc tới, vì nó khiến người ta e ngại hoặc không vui. Tuy nhiên, tận thế có thể là niềm mong chờ của người này, nhưng có thể lại là nỗi sợ của người khác.

Ngôn sứ Đanien nói: “Thời đó, Micaen sẽ đứng lên. Người là vị chỉ huy tối cao, là đấng vẫn thường che chở dân ngươi. Đó sẽ là thời ngặt nghèo chưa từng thấy, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Thời đó, dân ngươi sẽ thoát nạn, nghĩa là tất cả những ai được ghi tên trong cuốn sách của Thiên Chúa” (Ðn 12:1a). Đó là những lời tiên báo về ngày tận thế, đặc biệt ông cho biết đó là “thời ngặt nghèo nhất”, chắc chắn rất đáng quan ngại, thậm chí là đáng sợ, nhưng lại không hề đáng sợ đối với những người thuộc về Thiên Chúa, vì họ sẽ được “thoát nạn”.

Ngôn sứ Đanien giải thích: “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy”. Những người “an nghỉ trong bụi đất” là những người chết, vậy mà họ “trỗi dậy”, tức là sống lại. Rõ ràng đó là ngày tận thế, ngày chung thẩm. Nhưng số phận mỗi người khác nhau:: “Người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời. Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao” (Ðn 12:1b-2). Cùng một ngày, cùng được sống lại, nhưng có người sợ hãi và có kẻ vui mừng.


Tác giả Thánh vịnh thân thưa thay những người thuộc về Chúa: “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ” (Tv 16:5). Tất cả đều là của Chúa, nhưng Ngài trao chúng ta quyền quản lý. Nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, chúng ta hoàn toàn an tâm: “Con luôn nhớ có Ngài trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn” (Tv 16:8-9).

Tác giả Thánh vịnh xác định nguyên nhân: “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ” (Tv 16:10), đồng thời hoàn toàn khiêm nhường và tín thác vào Chúa: “Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16:11). Chắc hẳn chúng ta không đủ ngôn từ để diễn tả niềm hoan lạc được cận kề bên Chúa!

Thánh Phaolô nói: “Vị tư tế nào cũng phải đứng trong Đền Thờ lo việc phụng tự mỗi ngày và dâng đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; mà những lễ tế đó chẳng bao giờ xoá bỏ được tội lỗi” (Dt 10:11). Tế lễ là bổn phận và trách nhiệm hằng ngày của các tư tế, không chỉ dâng lễ đền tội cho mình mà còn dâng thay người khác, nhưng dù dâng bao nhiêu lần vẫn không bao giờ đủ mức để hoàn hảo. Nhưng có một tư tế chỉ cần dâng một lần cũng đủ, đó là Đức Kitô: “Sau khi dâng lễ tế duy nhất để đền tội cho nhân loại, Ngài đã lên ngự bên hữu Thiên Chúa đến muôn đời” (Dt 10:12).

Vì Đức Kitô là Thiên Chúa, là Thượng tế, là Đấng cao cả hơn mọi loài: “Từ khi đó, Ngài chờ đợi ngày các kẻ thù bị đặt làm bệ dưới chân” (Dt 10:13), và “Ngài chỉ dâng hiến lễ một lần, mà vĩnh viễn làm cho những kẻ Ngài đã thánh hoá được nên hoàn hảo” (Dt 10:14). Dù là ai và là gì thì tất cả chúng ta vẫn chỉ là những tội nhân. Thánh Phaolô vừa giải thích vừa kết luận: “Nơi nào đã có ơn tha tội thì đâu cần lễ đền tội nữa” (Dt 10:18).

Nói về ngày Con Người quang lâm, Chúa Giêsu cho biết các dấu hiệu: “Trong những ngày đó, sau cơn gian nan, mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển” (Mc 13:24-25). Đó là giờ G. Đó là lúc “thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (Mc 13:26). Và cũng chính lúc đó, “Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13:27).

Thấy những sự việc diễn biến hằng ngày, chúng ta có thể đoán biết điều gì xảy ra. Ngày tận thế cũng có những dấu chỉ khả dĩ nhận biết, Đức Kitô dùng hình ảnh thực tế hơn để mọi người đều có thể hiểu: “Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi” (Mc 13:28-29). Cuối cùng, Ngài quả quyết: “Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13:30-31). Tức là rất chắc chắn xảy ra ngày tận thế, không hề là chuyện đùa hoặc bịa đặt!

Tuy nhiên, hình như loài người vẫn bán tín bán nghi. Bằng chứng là đã từng có nhiều tin đồn về ngày nọ hay tháng kia là thời điểm tận thế, về chuyện “tối ba ngày, ba đêm”,… thế nên người ta lo tích lũy nến và mì gói để “đối phó”. Thật là nhảm nhí và dị đoan, chứng tỏ họ chẳng biết hoặc chẳng tin lời Chúa nói. Chính Chúa Giêsu đã xác định: “Về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc 13:32).

Vậy sao người ta vẫn bịa ra những tin đồn? Thật tệ hại là vẫn có những người nhẹ dạ cả tin khi nghe những lời “tiên tri dỏm” ấy. Chúa Giêsu còn chưa biết thì sao những con người phàm phu tục tử đầy tội lỗi như chúng ta lại biết trước? Không lo sống tốt mà cứ lo chuyện nhảm trên trời, dưới đất là sao? Quá vô lý!

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết vững niềm tin vào Lời Chúa và hoàn toàn tín thác vào Con Chúa để có thể đứng vững cho đến lúc Đức Kitô tái lâm. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
source by: ThanhLinh
TRẦM THIÊN THU

13 tháng 11, 2012

5 Bí Quyet De Song Nam Duc Tin

Năm Đức Tin
Bí Quyết
Sống Tròn Đầy Hồng Ân Đức Tin

5 Bí Quyet De Song Nam Duc Tin

1. Lưu tâm nối bước Mẹ các kẻ tin và các chứng nhân đức tin
Lấy tin yêu đắp trả tình yêu
2. Chuyên cần gặp gỡ Chúa đang đồng hành với tôi.
Lắng nghe lời Ngài và ghi nhớ trong lòng.

3. Đưa ánh sáng chân lý và tình yêu của Lời Chúa :

Vào trong suy nghĩ và hành động thường ngày .
4 . Thường xuyên theo sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần :
Đổi mới lòng trí và mở rộng tầm nhìn.
5 . Bước đi trong đường lối yêu thương của Chúa :
Chia sẽ hồng ân Chúa ban cho mọi người .

Kinh Cầu Xin Tổng Lãnh Thiên Thần MICAE


Kinh Cầu Xin Tổng Lãnh Thiên Thần MICAE
Lạy Tổng lãnh thiên thần, đấng bảo vệ chúng con trong cuộc chiến đấu. Xin phòng ngự chúng con khỏi gian tà và nanh vuốt của quỷ dữ
Chúng con khiêm cung nài xin Chúa đánh phạt nó, và kính xin ngài, ho
àng thân của Triều đình Thiên Quốc, nhờ vào quyền lực của Thiên Chúa, xin ngài hãy xua đuổi Satan và tất cả mọi thần dữ, những kẻ đang rình rập khắp thế gian để hủy hoại các linh hồn mà nén chúng xuống hỏa ngục - Amen


Sau khi rước Lễ (Mình Thánh Chúa).Chúng ta dành ít phút đọc một kinh Lạy Nữ Vương và Kinh Cầu Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, thì người đọc và Giáo Hội sẽ tránh được sự dữ hữu hình và vô hình
Hi vọng các bạn nên đọc nhiều hơn nữa và phổ biến rộng rãi Kinh Lạy Nữ Vương và Kinh Cầu Tổng Lãnh Thiên Thần Micae
Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho các bạn siêng đọc 2 kinh trên. Amen

Tin mới:
Thế giới mong chờ gì nơi vị Tân Giáo Hoàng   
Từ Nhà Thánh Marta tới Nhà Nguyện Sistine 
choquanktcn.blogspot.com

Kinh Cầu Cho Mọi Người

Lạy Cha!
Xin dạy cho con về tình yêu của Cha
Lạy Cha!
Thế gian cần Cha
Người người VN(*) cần Cha
Không khí ô nhiễm nặng nề cần Cha
Con nài xin Cha!
Lạy Cha dấu yêu!
Xin Cha trở lại mà bước đi trong nẻo đường của VN
Xin Cha trở lại mà sống giữa dân VN
Xin Cha trở lại mà lãnh đạo đất nước VN.Xin Cha trở lại mà đem bình an và công lý của Cha cho đất nước VN
Xin Cha trở lại mà đem ngọn lửa tình yêu
Hầu khi được cứu thoát bởi ơn sám hối, chúng con có thể trở nên những tạo thành mới. Amen

(*) Nếu bạn không phải nước VN thì thay quốc gia bạn đang sống vào đó

12 tháng 11, 2012

Cầu nguyện trong đức tin

Cầu nguyện trong đức tin( trang 55)
1.    Chọn một triệu chứng, hay một yếu đuối nào đó thôi
2.    Nói thành lời cho thân xác nhận được điều kiện, để chữa lành mà không gây khó khăn nữa. Nếu đau đầu, đừng xin “cho con hết đau đầu”. Vì tiếng “đau đầu “ tác động cho cơ thể vẫn nhớ đến đau đầu, mà hãy xin: “Lạy Chúa, Xin đến chữa lành mạch máu trong con, để máu chảy từ đầu đến chân theo trật tự và hài hòa, mà không bị tắt nghẽn chỗ nào”
Kí ức được chữa lành đau đầu từ từ giảm đi
3.    Hình dung trong trí hình ảnh mình cầu cho được; giữ lại hình ảnh cách nhẹ nhàng. Hãy nói cho thân thể:”không sao đâu,đây là hình ảnh mà ngươi đang đi đến”
4.    Cảm ơn Thiên Chúa vì quyền năng Người thấm nhập vào thân thể và vẹn toàn theo ý Thiên Chúa
Trích từ sách Lê Đường của LM Phalo Đinh Khắc Tiệu

10 tháng 11, 2012

Đọc Kinh Thánh (choquanktcn)


(choquanktcn) Bạn phải đọc Lời Chúa mỗi ngày để Chúa Thánh Thần có chất liệu làm biến đổi đời sống mới của bạn trong Chúa Ki Tô. Hãy xin Chúa Thánh Thần ban cho bạn lòng ham muốn đọc Lời Chúa, và đừng cố gắng hiểu quá nhiều những gì bạn mới bắt đầu đọc. công việc dạy dỗ chúng là của Chúa Thánh Thần. Nếu chúng ta coi Kinh Thánh như “lương thực” nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng, Chúa Thánh Thần sẽ dùng lương thực này như chất liệu cần thiết để phát triển trong chúng ta”tâm tư” và sức sống của Chúa KiTo.
Nên nhớ rằng “Chúa Jesus hôm qua và hôm nay vẫn là một, cho đến muôn đời”, và nếu Chúa Ki Tô đã trở nên đời sống của chúng ta, thì chúng ta phải để Người sống đời sống ấy như Người sống trong Thiên Chúa Cha. Khi chúng ta càng làm quen với Chúa Ki Tô trong đời sống, mổi ngày chúng ta sẽ càng hiểu biết Lời Kinh Thánh nhiều hơn. Kinh Thánh sẽ chỉ cho chúng ta Chúa Ye6su đã suy nghĩ, nói năng, và hành động như thế nào; và Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta trở nên giống Chúa Yê su nhiều hơn trong cuộc sống
Khi mới bắt đầu, có thể bạn chưa có sự ham thích đọc Kinh Thánh mỗi ngày, nhưng cứ kiên nhẫnvà tiếp tục, đừng bỏ cuộc. bạn có thể bắt đầu với Phúc Âm thánh Gioan, rồi đến sách Công Vụ Tông Đồ, và cứ tiếp tục đọc đến hết sách Khải Huyền. Rồi  sau đó trở lại, bắt đầu với Phúc Âm thánh Mattheu, và tiếp tục đọc cho tới hết như trên. Phúc Âm và Thánh Thư sẽ cho chúng ta biết Chúa Yesu ai? Và vì sao Người phải đến  trong thế gian để chết, sống lại, và đang sống cho chúng ta. Mức độ lớn lên trong đời sống thiêng liêng tùy thuộc vào mỗi người. Chúa KHÔNG ép buộc chúng ta. Chúng ta phải chọn láy một điểm nào đó trong Kinh Thánh mà mình muốn đem ra áp dụng để làm cho đời sống trở nên tốt đẹp hơn, sau đó Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta trở thành những cái máng, và  Người sẽ đổi đầy ơn xuống để chúng ta phục vụ mọi người chung quanh. Chúng ta không thểtự mình làm cho mình biến đổi nhanh hơn ý muốn của Chúa, nhưng có thể làm cho sự biến đổi ấy chậm lại, nếu chúng ta bất tuân, không đọc và không lắng nghe Lời Chúa!
Hãy cố gắng bắt đầu mỗi ngày đọc Kinh Thánh 15 phút. Bạn có thể  dùng bút màu gạch dưới những chữ hoặc những câu nào bạn cảm thấy được Chúa đánh động , đó là cách Chúa “nói” với bạn. Nhưng nên nhớ, trước khi đọc Kinh Thánh, bạn hãy cầu nguyện xin Chúa soi sáng điều gì Người dạy trong bài đọc, rồi bạn hãy đặt tin tưởng vào Người. Chúa sẽ thực hiện cho bạn điều bạn mong muốn! (Vì Người luôn trung tín trong mọi lời, Amen, Alleluia)
Cầu nguyện:
Lạy Chúa!
Con cảm tạ Chúa đã ban cho con Lời Hằng Sống! Chính Lời Chúa là “Đường soi bước chân con và là Ánh Sáng dẫn đường con đi!” (Tv 119,5). Lời Chúa là Thần Lương cho linh hồn con, vì con không thể sống thiếu lời Chúa, như Lời Chúa đã phán: “Người ta sống nguyên bởi bánh, nhưng còn bởi mọi Lời do miệng Thiên Chúa phán ra”
Xin cho con hằng ngày Đọc và Cầu Nguyện với Lời Chúa, để Lời Chúa có thể thấm nhuần mọi tư tưởng, lời nói và hành động của con, trở thành lương thực bổ dưỡng cho con, để con mỗi ngày lớn lên , và trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Yê su dấu yêu của con! Con biết rằng: con không thể nuốt chửng thực phẩm, thịt cá hay rau đậu…, vì chẳng sinh ích lợi chi cho thân xác con, thì con cũng không thể mỗi ngày đọc qua loa một hai câu Kinh Thánh mà con có thể sống mạnh và trưởng thành một cách viên mãn, giống Chúa Yê su được! thực phẩm cần được nghiền nát, tan nhuyễn, mới có thể hấp thụ và trở nên máu nuôi sống thân xác, thì xin Chúa cho con biết sống đời sống chiêm nghiệm, suy tư, nghiền gẫm mọi Lời của Chúa để con có thể nên giống Chúa hơn!
Xin con tin tuyệt đối vào mọi Lời Chúa phán dạy, để con có thể khám phá những kho tàng quý giá giấu ẩn trong đó, để Lời Chúa trở nên Ánh Sáng, sức sống cho linh hồn con
Xin cho linh hồn con trở thành thửa đất màu mỡ, phì nhiêu, đã được làm sạch rác rến, đã được cày sâu cuốc bẫm để hạt giống Lời Chúa có cơ hội nảy mầm mọi nhân đức và phát triển mạnh mẽ, trổ sinh bông hạt phong phú cho Mùa Gặt Nước Trời!
Xin cho con nhận ra rằng: Con đã uổng phí quá nhiều thời giờ vào những việc vô ích, suốt ngày bận bịu vào những câu chuyện tầm phào, xem TV, nghe nhạc, lướt Facebook… hay chỉ cho lo lắng cho thân xác mà lại để cho linh hồn bị đói, bị khát Lời Hằng Sống! Chúa quá biết: có nhiều ngày, nhiều tuần con đã không suy niệm Lời Chúa, tệ hơn nữa, là không đụng tới cuốn Kinh Thánh! Không nhìn xem thoáng qua, dù chỉ 5 -7 phút! Như thế đó, thì làm sao con có thể bền đổ trong Tình Thân với Chúa, thân thiết và trờ thành bạn tri âm tri kỉ của Chúa? Làm sao con có thể cứu rỗi linh hồn mình và linh hồn người khác?
Chúa ơi!
Con thật tệ quá!
Tin Mừng của Chúa là bức thư tình Chúa gởi đặc biệt cho con, mà con chẳng cần để ý tới! Tất cả kho tàng quý giá, những lời hứa trọng đại của Chúa gói gọn trong đó, nhưng nếu con không tìm kiếm, không tin tưởng, không đem ra thực hànhthì chẳng sinh ích lợi cho con! Con quyết tâm mỗi ngày sẽ dành thời gian Đọc, Suy Niệm, nghiền gẫm Lời Chúa, ít nhất 5,10 phút.Xin Chúa giúp con trung thành với lời hứa này!
Con biết rằng: Ai năng suy niệm Lời Chúa, thì Lời Chúa thấm nhuần, bén rễ sâu vào trong linh hồn để trổ sinh Sức Sống Mới của Ơn Thánh. Xin Lời Chúa hãy nảy mầm, thấm nhập vào con để Sức Sống Phục Sinh của Chúa trào tuôn trong linh hồn con để con trở thành người Ki Tô hữu đích thực, chứ không phải chỉ rỗng có danh hiệu mà thôi!
Lạy Chúa Yê Su!
Xin cho con không chỉ là người nghe và đọc lời Chúa suông, nhưng cho con biết quí trọng, yêu mến, và suy niệm Lời Chúa luôn luôn, để Lời Chúa thực sự đem lại Sự Sống, Niềm Vui, và Kho Tàng Vô Tận cho con đời này và đời sau! Amen!

Audio bai giảng P2

Mời bạn bấm nút Play để nghe
Xin cảm ơn

8 tháng 11, 2012

Audio bai giảng

Audio Bài Giảng của Linh Mục Thanh (dòng Chúa Cứu Thế)
Xin vui lòng nhấn nút Play để nghe, xin cảm ơn

6 tháng 11, 2012

Chân phước Gioan XXIII trong ngày khai mạc Công đồng Vatican II (2)

VRNs (06.11.2012) – Sài Gòn – Phần 1 của bài này đã đăng trên trang Chúa Cứu Thế ngày 15.10.2012 http://choquanktcn.blogspot.com/2012/10/chan-phuoc-gioan-xxiii-trong-ngay-khai.html để kỷ niệm 50 năm ngày khai mạc Công Đồng Vatican II. Đáng lẽ phần 2 phải tiếp liền nhưng vì tác giả bận đi đường xa nên phải gián đoạn. Xin cáo lỗi cùng bạn đọc và nay xin tiếp tục loạt bài về Công Đồng Vatican II.
Bài trước, chúng ta đã thấy Đức Chân Phước Gioan XXIII trong diễn văn khai mạc Công Đồng, ôn lại lịch sử Giáo Hội và nhìn tổng quát thế giới đương thời. Từ tầm nhìn đó ngài đề ra sứ mạng và tinh thần của Công Đồng Vatican II:
“Như vậy, thưa chư tôn huynh đệ, chức năng Công Đồng phải đảm đương trong lĩnh vực đạo lý đã tỏ rõ:
Quả thế, Công Đồng chung thứ XXIII… muốn đề xuất đạo lý Công Giáo toàn vẹn, không giảm nhẹ, không lệch hướng. Đạo lý ấy bất chấp những khó khăn và đấu tranh đã trở nên như gia sản chung của nhân loại. Đã đành đạo lý ấy không được tất cả mọi người chấp nhận, nhưng vẫn được đề xuất cho mọi tâm hồn thiện chí, như một khó báu rất phong phú đặt vào tay mọi người.
Tuy vậy nhiệm vụ của chúng ta không phải chỉ là giữ gìn kho báu vật ấy, như thể chúng ta chỉ có bổn phận với quá khứ; Bây giờ chúng ta đừng sợ hãi, hãy toàn tâm tra tay vào sự nghiệp mà thời đại chúng ta đòi hỏi, tức là đi tiếp con đường mà Hội Thánh đã đi được 20 thế kỷ rồi.
Mục đích đầu tiên công việc của chúng ta trù tính chẳng phải là luận bàn những điểm chính trong đạo lý của Hội Thánh, cũng chẳng phải là nhắc lại để triển khai thêm những luận điểm mà các Đấng Giáo Phụ và các thần học gia cổ kim đã đề xuất… Để tổ chức những cuộc bàn luận như vậy, thì không cần gì phải họp Công Đồng chung…
Thời đại này, phải làm sao để đạo lý Chúa Kitô nguyên tuyền toàn vẹn được mọi người ngày nay chấp nhận, với một mức quan tâm mới, với tinh thần trong sáng và bình an, hình thức thì phải giữ được tính chính xác của các ý niệm và ngôn từ…”  Điều cần thiết nữa là “làm sao để nhận thức về đạo lý này lan rộng hơn nữa và sâu hơn nữa trên khắp thế giới, ngõ hầu thấm nhuần và đào tạo nhân tâm; Sau nữa đạo lý chắc chắn và bất biến mà ta phải kính tin, cần được nghiên cứu và giảng dạy theo cung cách thời đại chúng ta đòi hỏi…”
Câu tiếp theo được các nhà quan sát và bình luận nhắc mãi, coi như điểm quan yếu của bài diễn văn:
Tự thân kho tàng Đức Tin, tức là các chân lý của Đạo Thánh là một mặt, nhưng một mặt khác là cách diễn bày các chân lý ấy sao cho vẫn giữ nguyên ý nghĩa, vẫn giảng dạy mãi một điều. Cách diễn tả đó là một điều rất quan trọng; nếu cần ta sẽ phải nhẫn nại làm việc để biểu đạt; quả vậy, sẽ cần du nhập những phương pháp trình bày tương hợp hơn với một sứ vụ giáo huấn chủ yếu có tính cách mục vụ.
Người ta cho rằng, từ “mục vụ” chính là điểm nhấn của Vatican II. Đức Gioan XXIII đã nói mục đích của Công Đồng này “chẳng phải là luận bàn những điểm chính trong đạo lý của Hội Thánh”. Những tín điều căn bản thì các Công Đồng chung từ các thế kỷ đầu đã xác lập rồi, Nicea năm 325, Constantinopoli I năm 381, Epheso năm 431, Chalcedonia năm 451, Constantinopoli II năm 553, Constantinopoli II năm 680, Nicea II năm 787. Các Công Đồng này đã định tín về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba NgôIi và mầu nhiệm Chúa Kitô. Công Đồng Trento họp nhiều khoá rất lâu từ 1545 đến 1563 cũng góp phần quan trọng làm sáng tỏ Đức Tin của Hội Thánh Công Giáo sau cuộc khủng hoảng Tin Lành. Kèm theo các giáo huấn chính thức của Hội Thánh là rất nhiều “những luận điểm mà các đấng Giáo Phụ và các thần học gia cổ kim đã đề xuất”.
Đến Công Đồng Vatican II này thì Giáo Hội với Đức Gioan XXIII thấy không cần đặt lại vấn đề gì về di sản đồ sộ đó nữa. Đó là một mặt, nhưng mặt khác, Vatican II mở ra một hướng nhìn mới rất “quan trọng”. Những trải nghiệm về Đức Tin, về Thần Học mà Hội Thánh đã tích luỹ đó phải được diễn dịch ra ngôn ngữ của ngày nay, để nuôi sống con người ngày nay. Những thành quả của quá khứ đó vừa phát xuất từ Đức Tin hằng sống, mà trong quá trình đạt tới Đức Tin đó cũng mang đầy những nét văn hoá, lịch sử, tâm lý của những thời đại mà Hội Thánh và xã hội cùng kinh qua. Từ đó tới nay, xã hội loài người, trong đó có Hội Thánh, đã đi thêm và sắp đi thêm những chặng đường mới với những nét văn hoá, lịch sử, tâm lý  mới, tạo ra một bầu khí và một tâm trạng khác trước.
Trải nghiệm quá trình ấy Đức Gioan XXIII cũng nói rõ trong một đoạn trước đó rằng: “Giáo Hội đã không bị động chứng kiến những phát hiện tuyệt vời của thiên tài con người cùng sự phát triển của các nền tư tưởng hiện nay”. Chẳng những thế giới phát triển ngày một nhanh chóng mà chính Giáo Hội cũng không ngừng phát triển về Thánh Kinh học, thần học, triết học, sử học.
 Kết quả là đã đến lúc đặt vấn đề mang hạt giống Đức Tin gieo vào thời đại như gieo vào một vùng đất mới cho những mùa gặt mới. Ở đây đạo lý có khả năng bén rẽ sâu hơn để “đào tạo nhân tâm”, sinh ra những hoa quả với hương vị độc đáo. Cho nên đạo lý chân truyền phải được nói bằng ngôn ngữ của thời đại cho con người thời đại. Hội Thánh mà nói được cho con người thời đại hiểu thấu cõi thâm tâm của cả Hội Thánh lẫn của con người thì đó là “mục vụ”. Vatican II là Công Đồng Mục Vụ.
Sau khi nói tới mục đích và tính cách Mục Vụ của Công Đồng, Đức Thánh Cha nói đến tinh thần của Công Đồng. Điểm này cũng có một ý nghĩa đặc biệt.
Chẳng là không biết từ lúc nào, trong trí não của nhiều người, kể cả một số vị trong hàng ngũ lãnh đạo của Giáo Hội, thì Giáo Hội đã biến thành một bộ máy để hạch sách và lên án thế gian, và hạch sách lên án cả con cái mình nữa. Cái sự lệch lạc không đáng có ấy từ đâu mà đến ? Có thể rằng nhân loại, cũng như từng cá nhân, đã đi qua nhiều giai đoạn nhận thức khác nhau. Khi người ta còn bé dại, có khi cha mẹ phải cấm đoán, đe nẹt, theo nghĩa “yêu cho roi cho vọt”. Các bậc cha mẹ ở một môi trường tâm lý văn hoá nào đó đã quan niệm như thế một cách rất ngay lành, “xin thầy, xin cô cứ thẳng tay trị tội con tôi”…
Nhưng đến một lúc đứa bé lớn lên, nó không còn tự động nói theo người lớn, rằng thế này là tốt, thế kia là xấu, vì bố, vì mẹ đã bảo thế. Từ nay nó cần lý giải, cần được thuyết phục, nó cần tâm phục khẩu phục. Lúc ấy sự cấm đoán hay trừng phạt không kiến hiệu nữa. Xã hội loài người cũng vậy, ở một giai đoạn phát triển nào đó, đại chúng sẵn sàng và mong mỏi được phục tùng quyền bính. Nhưng rồi xã hội ấy cũng lớn mạnh dần lên về mặt tinh thần, cũng tích luỹ kiến thức, và nhận ra mình là những con người có phẩm giá tự do. Lúc ấy người ta sẽ cảm thấy mình có quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do đi tìm chân lý. Xã hội đã chín để chuyển sang giai đoạn dân chủ. Thậm chí ngay cả sự trừng phạt, đe nẹt đối với trẻ thơ người ta cũng không muốn nữa, người ta đi tìm những phương cách mới để giáo dục trẻ.
Lịch sử Giáo Hội cũng đi qua những chặng đường tương tự. Vào một thời nào đó, quần chúng tín hữu chỉ mong được hướng dẫn, được tuân phục. Và Giáo Hội, theo nghĩa là giáo quyền, là hệ cấp lãnh đạo, cũng chăm lo giữ gìn đoàn chiên của mình khỏi mọi lầm lạc, giữ gìn đoàn chiên trong đường ngay nẻo chính. Khi đó, một cách rất đơn giản, Giáo Hội đưa ra những chỉ thị, cái gì xấu thì cấm, cấm mà con chiên vẫn bị nó tuyên truyền, cám dỗ thì có những biện pháp đe nẹt, trừng phạt để người ta sợ. Đó là “yêu cho roi cho vọt”, là “thuốc đắng giã tật”.
Trong những vấn đề rất hệ trọng cho sự chính thống của Đức Tin, tức là khi những tư tưởng sai lầm có nguy cơ lan tràn, nhiều khi những biện pháp đe nẹt, trừng phạt mang những bộ mặt dễ sợ. Ví dụ có một công thức dùng để lên án những sai lầm nguy hiểm: Anathema Sit ! Thật ra từ ngày nhân loại không còn sống trong thời kỳ chiến tranh tận diệt cả người lẫn vật để tế thần thì cũng chả ai xác định được cụ thể “Anathema” là những gì gì. Có lẽ có thể dịch là: Trời tru đất diệt. Giáo Hội liền có công thức: Kẻ nào dám nói, dám chủ trương thế này thế nọ, thì Anathema Sit ! Cho đến Công Đồng Vatican I, năm 1870, công thức Anathema vẫn còn được sử dụng.
Đức Phật có hình ảnh dụ ngôn về ngón tay chỉ mặt trăng. Hiểu theo hướng đó thì Anathema dễ sợ kia là một ngón tay sù sì chỉ đường cho người ta khỏi lạc nẻo chân lý, xa lánh chỗ nguy hại, hướng về cõi giải thoát. Nhưng để thờ phượng thì ai mà thờ phượng cái ngón tay ! Tuy thế dần dần thái độ có phần nghiêng lệch đối với tín lý vẫn thâm nhiễm một số giáo sĩ và cả dư luận nói chung. Giáo sĩ thì có khuynh hướng coi nhiệm vụ chính của mình là soi mói và lên án, dư luận thì có khuynh hướng coi Giáo Hội như một bộ máy khổng lồ chuyên trói buộc tự do và cấm đoán. Cho đến khi Công Đồng họp, trong thâm cung Vatican một số vị vẫn muốn Công Đồng chủ yếu phải lên án thế giới hiện tại.
Tâm thế như vậy làm hại Giáo Hội không ít, đặt biệt trong các giới có trình độ kiến thức và tư duy. Có thể nói trong đoạn sau đây của diễn văn khai mạc, Đức Chân Phước Gioan XXIII vừa tái lập quân bình vừa thắp sáng đạo lý của Tin Mừng:
Trong ngày khai mở Công Đồng chung Vatican II này, ta thấy rõ hơn bao giờ rằng chân lý của Chúa đời đời tồn tại. Trái lại ta thấy thời gian đắp đổi thì những hệ thống tư tưởng mông lung cứ lần lượt khai trừ lẫn nhau, và những sự lầm lạc vừa phát sinh đã vội tan biến như sương mù dưới ánh mặt trời. Xưa nay Giáo Hội vẫn chống lại những lầm lạc đó, và đã nhiều lần lên án một cách rất cương quyết. Còn hiện tại thì Hiền Thê Chúa Kitô (tức là Hội Thánh) muốn dùng vị thuốc trắc ẩn hơn là những khí giới nghiêm khắc. Hội Thánh tin rằng, thay vì lên án, nên tỏ rõ thêm nữa sự quý giá của đạo lý, đó là cách tốt hơn để đáp ứng những nhu cầu ngày nay.
Đã đành là có những nguỵ thuyết và những quan điểm sai lầm. Đã đành là có những nguy cơ cần phải ngăn ngừa và đẩy lui. Nhưng những sự lạc hướng đó đối chọi với các nguyên lý thuần lương một cách thật hiển nhiên, cho nên ngày nay lòng người tự giác mà lên án những sai lầm đó; Nói rõ ra là những sai lầm về lối sống phủ nhận Thiên Chúa và các giới luật của Ngài, là sự tin tưởng quá đáng vào tiến bộ kỹ thuật, là một sự thịnh vượng chỉ lấy tiện nghi làm động lực. Càng ngày người ta càng tự mình nhận thức rằng nhân phẩm được tôn trọng đầy đủ là điều rất quan trọng và rất khó đạt. Nhất là kinh nghiệm cuối cùng đã dạy rằng sức mạnh áp đặt từ bên ngoài, quyền lực của võ khí và sự chuyên quyền về chính trị là những điều hoàn toàn không có khả năng giải quyết một cách tốt đẹp các vấn đề rất nghiêm trọng đang khiến lòng người xao xuyến.
Trong hoàn cảnh như vậy, Hội Thánh Công Giáo nhờ Công Đồng chung mà thắp cho bừng sáng ngọn đuốc chân lý của Đạo, Hội Thánh muốn được như một người mẹ hiền cho mọi người, nhân ái, nhẫn nại, đầy lòng khoan dung từ hậu với con cái tản lạc. Với người đời đang mang gánh nặng của biết bao nhiêu lầm than, Hội Thánh công bố như Thánh Phêrô ngày xưa với anh nhà nghèo…: “Bạc vàng tôi không có, nhưng có gì thì tôi cho anh: nhân danh Giêsu Kitô người Nazareth, anh hãy đứng dậy mà đi” (Cv 3, 6). Thành ra Hội Thánh không hiến tặng cho người ngày nay những sự phong phú lỗi thời, nhưng… Hội Thánh khai thông những nguồn suối đạo lý để cho mọi người, dưới ánh sáng Chúa Kitô, có khả năng thâm nhập ý nghĩa chân thực của đời người, phẩm giá của mình, và cứu cánh mình phải dõi theo; sau hết qua con cái của mình, Hội Thánh muốn mở đường cho Lòng Mến của Đức Kitô lan toả khắp nơi”.
Đoạn diễn văn này, phản ánh tâm hồn mênh mông của Đức Gioan XXIII, phản ảnh cái gì đã làm cho vài năm ngắn ngủi khắp nơi muốn tìm đến với Ngài; nhưng hơn thế nữa, nó là một lúc Hội Thánh tự kết nối mình với Đức Giêsu khi Ngài trách móc mấy ông đồ đệ nóng tính, chỉ mong cho lửa trời đốt rụi những kẻ không theo mình, nối kết mình với Đức Giêsu “hiền lành và khiêm nhường trong lòng”, Đức Giêsu thương yêu “những kẻ khó nhọc và gánh nặng”…
Chưa nói tới những lý thuyết và nếp sống trái đạo, ngay trong Công Đồng này cũng có những vị đang phục vụ với tính cách chuyên viên hay thần học gia đã cảm thấy niềm an ủi dâng lên trong lòng. Đấy là những vị mới mấy năm trước đấy còn bị các đấng bậc ở cơ quan kiểm duyệt Rôma đầy đoạ thi hành kỷ luật sắt, cấm nói, cấm giảng dạy chỉ vì họ đã dám chỉ rõ những điểm chưa đạt trong cách hành xử của Giáo Hội, chỉ vì họ nêu cao một vài chân lý mà những người thủ cựu nhưng có nhiều quyền muốn che lấp đi. Cha Congar, OP., trong lúc đang bị Bộ Thánh Vụ (chuyên kiểm duyệt sách ở Rôma) thi hành kỷ luật thì Đức Gioan XXIII khi đó đang làm Sứ Thần Toà Thành ở Paris, lại chăm chú đọc và ngẫm nghĩ về những tác phẩm lớn của cha như “Những nguyên lý cho phong trào Đại Kết Công Giáo” (Chrétiens Désunis – Principes d’un Oecuménisme Catholique) và nhất là “Cải cách thật và cải cách giả trong Giáo Hội” (Vraie et fausse réforme dans l’Eglise). Năm 1960, chính Đức Gioan XXIII triệu vời cha Congar và nhiều người khác cùng một hoàn cảnh như cha (cha Chenu, cha de Lubac) bị các đấng ở Bộ Thánh Vụ coi là “khả nghi” về Rôma làm cố vấn Công Đồng.
Hơn thế nữa, về sau người kế vị ngài là Đức Gioan Phaolô II sẽ trao tặng Hồng Y cho cha de Lubac (năm 1983) và cha Congar (năm 1994) để nhìn nhận công lao của các ngài với Công Đồng Vatican II, chỉ ít lâu trước khi hai ngài qua đời. Đức Gioan Phaolô II, khi chuẩn bị mừng Năm Thánh thiên niên kỷ 2000, và nhìn lại lịch sử Dân Chúa, đã liệt kê tinh thần “bất bao dung” vào số những tội lỗi Giáo Hội cần phải sám hối:
Thật ra nếu muốn đánh giá lịch sử chính xác thì không thể không nghiên cứu kỹ về sinh cảnh văn hoá của các thời đại, từ đó mà nhiều người có thể thành tâm cho rằng chứng tá đích thực cho chân lý có thể bao hàm sự huỷ tiêu quan điểm của người khác hoặc ít ra là không lý gì đến các quan điểm ấy. Lắm lúc nhiều yếu tố tích tụ lại tạo ra những thiên kiến khả dĩ biện minh cho sự bất bao dung gây nên một bầu khí xúc cảm mà chỉ có những tinh thần vĩ đại, thật sự tự do và đầy Thiên Chúa mới có khả năng vượt thoát một cách nào đó. Tuy vậy, dù có xét đến những yếu tố giảm khinh cũng không bãi miễn được cho Giáo Hội nghĩa vụ phải bày tỏ niềm hối hận sâu xa về những yếu đuối biết bao nhiêu con cái đã làm xấu mặt Giáo Hội, khiến cho Giáo Hội không phản ảnh được đầy đủ hình ảnh Chúa mình chịu đóng đinh, là chứng tích tuyệt vời của tình yêu thương nhẫn nại và hiền hoà khiêm nhường. Từ những thời điểm đau đớn ấy của quá khứ có thể rút ra bài học cho tương lai khiến cho mọi Kitô Hữu tâm phục nguyên lý tuyệt cao do Công Đồng Vatican II đề xướng: “Chân lý không thể tự xác lập chính mình, trừ phi là dựa vào sức mạnh của chính chân lý, sức mạnh ấy thu phục nhân tâm một cách vừa hiền hoà, vừa mãnh liệt”. (Tông thư thiên niên kỷ Tertio Millennio Adveniente).
Việc Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II kết thức đoạn văn trên đây bằng lời trích dẫn tuyên ngôn của Công Đồng Vatican II về tự do tôn giáo (Dignitatis Humanae số 1) cho thấy Công Đồng này là một thời điểm lớn Giáo Hội đề cao sức mạnh tự thân của chân lý và khước từ mọi sự cưỡng bức hẹp hòi mà một số người vào một số thời trong Giáo Hội đã mắc phải. Nhìn theo hướng đó sẽ thấy Đức Gioan XXII và Công Đồng đã tái lập những định hướng quan trọng và khai phóng như thế nào.
Với tinh thần hiền hoà ấy, Đức Gioan XXIII kêu gọi Công Đồng rộng lòng trình bày Đức Tin cho người ngày nay, vừa “về nguồn”, vừa tìm đến với thời đại. Ngài hy vọng Công Đồng sẽ đóng góp cho sự hiệp nhất của tất cả những người tin vào Chúa Kitô, và Công Đồng sẽ thắp sáng Lòng Mến của Chúa Kitô để phục vụ toàn thể nhân loại. Ngài kêu gọi mọi người đồng tâm nhất trí cầu nguyện với ngài…
Lm. VŨ KHỞI PHỤNG, DCCT

Chỉ luôn muốn sự thiện và nhìn người khác với cái nhìn của Thiên Chúa


VRNs (06.11.2012) – Vatican – Từ Thiên Chúa, chúng ta luôn luôn và chỉ học biết muốn sự thiện chứ không bao giờ muốn sự dữ. Chúng ta học biết nhìn người khác với cái nhìn của Chúa Giêsu Kitô: một cái nhìn của tình yêu thương khởi hành từ con tim và không dừng lại ở ngoại diện, nhưng vượt qua các dáng vẻ bề ngoài để tiếp nhận được các chờ mong sâu thẳm của người khác được lắng nghe và được chú ý.
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nói như trên với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương tụ tập tại quảng trường thánh Phêrô trưa Chúa Nhật 5-11-2012 để đọc kinh Truyền Tin với ngài.
Mở đầu bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói:

Anh chị em thân mến, Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay (Mc 12,28-34) tái đề nghị với chúng ta giáo huấn của Chúa Giêsu liên quan tới giới răn trọng nhất: giới răn của tình yêu thương: mến Chúa, yêu người. Các thánh, mà chúng ta vừa mới cử hành trong cùng một ngày lễ trọng, chính là những người tín thác nơi ơn thánh của Thiên Chúa và tìm sống theo luật nền tảng này. Thật thế, giới răn yêu thương có thể được thực thi một cách tràn đầy bởi người sống tương quan sâu xa với Thiên Chúa, y như đứa bé có khả năng yêu thương từ một tương quan tốt với cha mẹ nó. Thánh Gioan thành Avila, mà tôi mới tuyên bố là Tiến Sĩ Hội Thánh, viết ở đầu ”Khảo luận về tình yệu Thiên Chúa” của người như sau: ”Lý do mạnh nhất thúc đẩy con tim chúng ta yêu mến Thiên Chúa là nhìn lại tình yêu mà Người có đối với chúng ta… Hơn các lợi ích khác, điều này thúc đẩy con tim yêu mến; bởi vì người làm một điều lành cho người khác, thì cho họ cái gì mình có; nhưng người yêu thương, thì trao ban chính mình với tất cả những cái mình có, mà không còn lại gì khác để cho” (s. 1). Trước khi là một giới răn, tình yêu là một ơn, một thực tại, mà Thiên Chúa làm cho chúng ta nhận biết và sống kinh nghiệm, để như một hạt giống, nó có thể nảy mầm cả bên trong chúng ta và phát triển trong cuộc sống chúng ta.
Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ:
Nếu tình yêu của Thiên Chúa đã đâm rễ sâu trong một người, thì người đó có khả năng yêu thương cả người không đáng được yêu, y như Thiên Chúa yêu thương chúng ta vậy. Cha mẹ không chỉ yêu thương con cái khi chúng xứng đáng thôi, nhưng các ngài luôn luôn yêu thương chúng, dĩ nhiên cả khi các ngài làm cho chúng hiểu khi chúng sai. Chúng ta học được từ Thiên Chúa chỉ luôn luôn muốn sự lành và không bao giờ muốn sự dữ. Chúng ta học nhìn người khác với cái nhìn của Chúa Giêsu Kitô. Một cái nhìn phát xuất từ con tim và không dừng lại ở bề ngoài, nhưng đi xa hơn các dáng vẻ bề ngoài và đón nhận được các chờ mong của người khác: được lắng nghe và chú ý một cách nhưng không; tắt một lời một cái nhìn của tinh yêu thương. Nhưng cũng xảy ra điều ngược lại, đó là khi tôi rộng mở cho người khác như họ là, bằng cách đến gặp gỡ họ, sẵn sàng đối với họ, thì tôi cũng rộng mở cho việc hiểu biết Thiên Chúa, cảm nhận rằng Người hiên hữu và tốt lành. Tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân không thể tách rời nhau và có tương quan hai chiều với nhau. Đức Giêsu đã không sáng chế ra tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân, nhưng Người đã vén mở cho thấy chúng là một giới rằn duy nhất; và Người đã không chỉ vén mở nó bằng lời nói, mà nhất là bằng chứng tá của Người: Chính Con Người của Đức Giêsu và tất cả mầu nhiệm của Người nhập thể sự hiệp nhất của tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân, như hai cánh dọc và ngang của Thập Giá. Trong Bí tích Thánh Thể Người ban cho chúng ta tình yêu hai chiều ấy bằng cách tự hiến Chính Mình, để được nuôi dưỡng bởi Bánh này, chúng ta cũng yêu nhau như Người đã yêu chúng ta.
Anh chị em thân mến, qua sự bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta hãy cầu nguyện để mọi kitô hữu biết chứng tỏ đức tin của mình nơi một Thiên Chúa duy nhất với chứng tá trong sáng của tình yêu thương đối với tha nhân.
Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.
Sau đó Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Bằng tiếng Pháp ngài nói: Khi yêu mến Thiên Chúa duy nhất và yêu mến tha nhân như chính mình, chúng ta xây dựng sự hài hòa và bình an trong các gia đình, các cộng đoàn và đất nước của chúng ta. Để hiểu biết giới răn này của Chúa nhiều hơn, mỗi ngày anh chị em hãy tìm ra thời giờ đọc và suy niệm Lời Chúa. Như đối với các thánh, Lời Chúa sẽ là ánh sáng cho chiếu bước đi của anh chị em và là niềm vui cho con tim của anh chị em.
Chào đoàn tín hữu dòng Ba Phanxicô Slovenia Đức Thánh Cha cầu mong chuyến hành hương Roma khích lệ họ luôn là chứng nhân tươi vui của tình yêu Thiên Chúa trong suốt Năm Đức Tin này.
Bằng tiếng Đức ngài cầu chúc ánh sáng tình yêu của Chúa giúp mọi người nhận ra nơi tha nhân hình ảnh của Thiên Chúa và yêu mến họ. Vì đó là dấu chỉ Nước Chúa hiện hiện trong thế giới này.
Linh Tiến Khải
Radio Vatican – tiếng Việt


Translate

TẤT CẢ BẠN CẦN